SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
9
6
8
5
6
0
9
Tin tức sự kiện 21 Tháng Năm 2014 2:50:00 CH

CHIẾN THẮNG MANG TÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

            Nói đến ba tiếng Điện Biên Phủ, không chỉ người Việt Nam mà nhiều người ở các nước như Pháp, châu Phi…đều nghe tên và biết đó là trận chiến giữa quân đội viễn chinh Pháp có trợ giúp to lớn của Mỹ và quân đội nhân dân Việt Nam, năm 1954.

            Điện Biên Phủ ở Tây Bắc: Đây là tập đoàn cứ điểm do quân viễn chinh Pháp lập trong thế bị động của tướng Na Va đối phó với lực lượng chủ lực của Việt Minh, nhằm bảo vệ Lào, được các tướng lĩnh cả Pháp và Mỹ ca ngợi hết lời. Chúng đặt hy vọng nơi đây sẽ là cái bẫy hòng hút quân chủ lực Việt Minh đến mà tiêu diệt.

Điện Biên Phủ vốn là thung lũng phì nhiêu, bằng phẳng bề dài khoảng 20 km, bề rộng 5km, có sông Nậm Rốm chảy qua giữa cánh đồng, có sân bay cũ từ thời Nhật chiếm đóng. Bốn phía xa là núi bao bọc. Khi đã sửa chữa xong sân bay, máy bay lên xuống chở quân dụng, tăng quân thật nhanh chóng hình thành “con nhím” to gấp nhiều lần so với con nhím Nà Sản mà năm trước Việt Minh đánh không thành công.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Bí thư Quân ủy Chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ ) đến chào Bác Hồ trước lúc lên đường ra mặt trận. Đại tướng nói vì xa xôi sợ có gì bất thường không kịp xin ý kiến Bác và Trung ương. Bác Hồ dặn Đại tướng: trận này rất quan trọng, chắc thắng mới đánh. Tướng quân ra trận, Bác giao chú toàn quyền, có gì cần đưa ra Đảng ủy bàn bạc thống nhất cứ làm rồi báo cáo Bác sau.

Khi Đại tướng đến Mặt trận thì con nhím đã có thời gian xây dựng kiên cố rồi. Vốn tính thận trọng, Đại tướng có suy nghĩ rằng: Hai năm trước con nhím Nà Sản nhỏ hơn nhiều mà bộ đội ta đánh không thành công. Nay tập đoàn cứ điểm này to gấp nhiều lần Nà Sản, liệu bộ đội ta chiến đấu thế nào. Bộ đội ta tấn công địch trên địa bàn trống trãi làm sao chống chọi với phi pháo của địch ? Dù nghĩ vậy, nhưng là người đến sau Đại tướng vẫn đồng ý với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của các cán bộ đi trước. Đại tướng cho theo dõi sát tình hình địch xây dựng cứ điểm, có cơ sở chắc chắn để tính toán cho bộ đội ta chiến đấu. Sau khi nắm chắc tình hình địch, sau một đêm thức trắng, Đại tướng cho mời họp Đảng ủy Mặt trận bàn về cách đánh. Nhiều cán bộ không đồng ý chuyển sang đánh lâu dài. Các cán bộ này lo sợ không thể giải quyết nổi vấn đề hậu cần tiếp tế từ xa, mùa mưa đến bộ đội gặp trở ngại trong chiến đấu. Nhưng khi Đại tướng trình bày ý kiến Bác Hồ căn dặn trước lúc lên đường và gặn hỏi liệu đánh nhanh có chắc thắng không, thì không có ai dám chắc. Cuối cùng hội nghị đồng ý với Đại tướng chuyển từ đánh nhanh sang đánh chắc, tiến chắc. Sau này Đại tướng nói: Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của ông.

 

Vậy là kéo pháo ra, bố trí lại trận địa theo phương án mới. Bộ đội đang trong khí thế hừng hực chờ lệnh tiến công, giờ phải kéo pháo ra, nhưng ai cũng chấp hành nghiêm quân lệnh. Đây cũng thể hiện rõ kỷ cương sức mạnh của quân đội ta. Pháp không thấy ta tấn công như chúng nắm được thông tin qua tình báo, lo sợ Việt Minh bỏ cuộc. Tết năm ấy, địch cho máy bay rãi truyền đơn trắng rừng mời gọi, thách thức tướng Giáp tấn công vào Điện Biên Phủ.

Ngày 13/3/1954, lúc 17 giờ 5 phút, quân ta mở màn trận tấn công cứ điểm Him Lam. Ngay ngày đầu ta tiêu diệt cứ điểm này. 40 khẩu pháo từ 75-120 mm đồng loạt nhả đạn. Một viên đạn rơi trúng Sở chỉ huy Him Lam, giết chết thiếu tá Paul Pegot cùng với 3 sĩ quan khác và cả điện đài. Him Lam mất liên lạc với Mường Thanh-khu trung tâm ngay từ đầu trận đánh. Một kho xăng bốc cháy. Các trận địa pháo ở Mường Thanh tê liệt. 12 khẩu trọng pháo và súng cối bị đánh hỏng. Đường dây điện thoại từ trung tâm đến các cứ điểm đều bị cắt đứt. Nhiều hầm, hào, công sự bị sụp đổ. Đến 23 giờ 30 đêm ta xóa sổ hoàn toàn tiểu đoàn 3, bán Lữ đoàn Lê dương thứ 13, thu toàn bộ vũ khí, trang bị. Ngày hôm sau, ta cho phép xe Jeep và 1 xe cứu thương của Pháp lên Him Lam để thu lượm thương binh. Hai ngày sau tên Pirot, chỉ huy pháo binh tự sát vì nhục, đã thua Việt Minh.

Qua 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, ta vây lấn dần làm cho địch không thể chịu đựng nổi. Đến cả máy bay cũng không dám bay thấp để thả dù tiếp tế. Vì vậy có đến 1/3 số dù vũ khí, lương thực thực phẩm của địch bay sang trận địa của ta, tiếp cho ta những thứ cần, làm tăng khả năng chiến đấu của các Đại đoàn chủ lực ở mặt trận.

Đợt 3 cũng là trận cuối cùng, diễn ra ngày 1/5, ta giải quyết các điểm còn lại, trong đó có nửa đồi A1. Lực lượng công binh đào đường hầm sâu vào trong, đặt gần 1000 ký thuốc nổ, 20 giờ ngày 6 tháng 5, bộc phá nổ, đánh bay lô cốt đồi A1, diệt phần lớn đại đội dù đóng ở đây. 17 giờ 30 ngày 7/5, toàn bộ  quân địch tại khu trung tâm đã đầu hàng, ta bắt tướng Đờ Cát. Cụm phân khu Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào, nhưng bị Quân Đội Nhân dân Việt Nam đuổi theo, tất cả bị bắt không đi thoát.

Tổn thất của Pháp tại trận Điện Biên Phủ được ghi nhận như sau:

Pháp tăng quân số lên đến 16.000 người, nhưng họ không thể lật ngược thế cờ. Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bắt làm tù binh. Pháp chết 2.293 người, 6.650 người bị thương, 1.729 người mất tích, 11.721 người bị bắt làm tù binh. Toàn bộ 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 10 đại đội quân đội quốc gia (lính ngụy) bị tiêu diệt. Tổng số sĩ quan và hạ sĩ quan bị tiêu diệt và bị bắt 1.706 gồm 1 thiếu tướng, 16 đại tá và trung tá,  353 sĩ quan từ thiếu úy đến thiếu tá. Ngoài ra còn có 2 phi công Mỹ chết và 1 bị thương. Pháp tổn thất 56 phi cơ bị phá hủy (36 chiếc đang bay, 20 trên phi đạ), 186 phi cơ bị hư hại, 2 trực thăng bị phá hủy. Pháp mất toàn bộ trang bị, vũ khí, xe tăng và pháo binh ở Điện Biên Phủ. Ta thu giữ 3 xe tăng, 28 đại bác, 5915 súng các loại, 20.000 lít xăng dầu cùng rất nhiều đạn dược, quân trang quân dụng.

Thua trận này, nước Pháp choáng váng, chấp nhận ký Hiệp định Geneve, đình chiến, rút quân về nước.

Thắng lợi của Việt Nam là ngọn cờ hiệu triệu các nước châu Phi đứng lên giành độc lập. Riêng năm 1960, 17 nước châu Phi đã giành được độc lập. Đến năm 1967, Pháp buộc phải trả độc lập cho tất cả các nước thuộc địa của Pháp. Các nước này kính trọng và luôn hô to Việt Nam- Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ khi có dịp gặp gỡ cán bộ chiến sĩ của ta.       

 Chiến thắng ở Điện Biên Phủ, Tây Bắc buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneve, rút quân về nước, ta giải phóng một nửa nước, miền Bắc tiến lên Xã hội Chủ nghĩa, là hậu phương lớn cho công cuộc giải phóng miền Nam.

 

NGUYỄN HẢI PHÚ

 


Số lượt người xem: 1270    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Hào khí Hóc Môn - Bà Điểm
Tìm kiếm