SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
3
8
4
3
0
4
0
Tin tức sự kiện 27 Tháng Tư 2016 10:55:00 SA

Tóm tắt tiểu sử các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các nhân vật lịch sử được đặt tên đường trên địa bàn huyện

 Ngày 4/2/2016, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 445/QĐ-UBND về việc đặt 23 tên đường mới trên địa bàn huyện Hóc Môn; Nhằm giáo dục truyền thống cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về ý nghĩa công tác đặt tên đường… Ban Biên tập Đài Truyền thanh huyện xin giới thiệu tiểu sử các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các nhân vật lịch sử được đặt tên đường trên địa bàn huyện.

1.Đường Trịnh Thị Dối: Đặt tên cho đường Hương lộ 80B, từ Kênh Trần Quang Cơ đến đường Đặng Thúc Vịnh. Dài 3.190m, lộ giới 30m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng là liệt sĩ Trịnh Thị Dối, sinh năm 1910, hy sinh năm 1962, quê quán xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Mẹ là liệt sĩ, mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Phạm Văn Mén, sinh năm 1935, hy sinh năm 1969; Liệt sĩ Phạm Văn Đực (Lớn), sinh năm 1944, hy sinh năm 1968; Liệt sĩ Phạm Văn Đực (Nhỏ), sinh năm 1947, hy sinh năm 1968. Mẹ sinh được 8 người con (1 gái, 7 trai), trong kháng chiến mẹ tham gia làm giao liên, năm 1962 mẹ bị giặc bắt, tra tấn dã man và hy sinh tại khám Chí Hòa.

2. Đường Huỳnh Thị Na: Đặt tên cho đường Đông Thạnh 2, từ Bến đò Thới Thuận đến Kênh Trần Quang Cơ. Dài 3.878m, lộ giới 30m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Na, sinh năm 1905, mất năm 1982, quê quán xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Hoàng Oanh, sinh năm 1927, hy sinh năm 1950; Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảng, sinh năm 1943, tham gia kháng chiến năm 1964, hy sinh ngày 12/5/1968; Liệt sĩ Nguyễn Văn Sĩ, sinh năm 1950, tham gia kháng chiến năm 1967, hy sinh tháng 12/1968. Trong kháng chiến, mẹ tham gia nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng.

3. Đường Nguyễn Thị Sáng: Đặt tên cho đường Đông Thạnh 1 - 1, từ đường Đông Thạnh 1 đến giáp xã Thới Tam Thôn. Dài 1.736m, lộ giới 12m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Sáng, sinh năm 1899, chưa rõ năm mất, quê quán xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 người thân là liệt sĩ gồm: Chồng liệt sĩ Nguyễn Văn, hy sinh năm 1946; Con nữ liệt sĩ Nguyễn Thị Chàng, sinh năm 1924, hy sinh tháng 3/1967, tại Bến Dược, huyện Củ Chi; Con liệt sĩ Nguyễn Văn Ôi, hy sinh năm 1949. Trong kháng chiến, mẹ tham gia tiếp tế thuốc men, lương thực cho bộ đội.

4. Đường Nguyễn Thị Điệp: Đặt tên cho đường Đông Thạnh 2 - 2, từ tuyến đường Đông Thạnh 2 - 3 - 1 đến tuyến đường Đông Thạnh 2. Dài 1.500m, lộ giới 12m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng là liệt sĩ Nguyễn Thị Điệp, sinh năm 1886, hy sinh năm 1952, quê quán xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Mẹ là liệt sĩ. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Huỳnh Văn Dưng, sinh năm 1922, tham gia kháng chiến năm 1946, hy sinh năm 1949; Liệt sĩ Huỳnh Văn Nhẹ, sinh năm 1925, tham gia kháng chiến năm 1954, hy sinh năm 1954; Liệt sĩ Huỳnh Văn Dân, sinh năm 1916, tham gia kháng chiến năm 1948, hy sinh năm 1952. Trong kháng chiến, mẹ làm công tác hậu cần và giao liên cho đơn vị Công an huyện Hóc Môn. Tháng 7/1952, mẹ hy sinh khi trên đường đi công tác giao liên cho Công an Gò Môn, mẹ bị giặc Pháp bắt và giết chết tại xã Tân Thới Hiệp, huyện Hóc Môn (nay là phường Tân Thới Hiệp, quận 12).

5. Đường Nguyễn Thị Pha: Đặt tên cho đường Đông Thạnh 1, từ đường Đặng Thúc Vịnh đến Hương lộ 80B. Dài 1.372m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Pha, sinh năm 1901, mất năm 1981, quê quán xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Mẹ có 1 con duy nhất là liệt sĩ Nguyễn Văn Hon, sinh năm 1933, tham gia kháng chiến chống Pháp, thuộc Chi đội 12, hy sinh tại Củ Chi ngày 9/2/1952 âm lịch. Trong kháng chiến, mẹ tham gia công tác giao liên tại địa phương. Mẹ sinh sống bằng nghề làm sáo trúc.

6. Đường Trương Thị Như: Đặt tên cho đường Xuân Thới Sơn 4, từ đường Nguyễn Thị Thử đến đường Đặng Công Bỉnh. Dài 5.117m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trương Thị Như, sinh năm 1910, mất năm 1988, quê quán xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Hồ Văn Na, sinh năm 1935, hy sinh ngày 23/3/1953; Liệt sĩ Hồ Văn Chót, sinh năm 1944, hy sinh ngày 30/5/1962; Liệt sĩ Hồ Văn Siêng, sinh năm 1948, hy sinh năm 1969. Mẹ sinh sống bằng nghề làm ruộng và đan giỏ. Trong kháng chiến, mẹ tham gia nuôi giấu, tiếp tế lương thực để nuôi quân. Ngoài ra, mẹ còn cất giấu đạn dược cho du kích địa phương hoạt động. Nhiều lần giặc bắt mẹ lên đồn dụ dỗ, dọa nạt để mẹ kêu gọi các con đầu hàng giặc, nhưng mẹ kiên quyết không mắc mưu của giặc. Anh Hồ Văn Na hy sinh, bất chấp sự đe dọa của giặc, mẹ vẫn ra nhận xác con về chôn cất. Đến khi anh Chót hy sinh, 1 tháng sau mẹ mới hay tin, không tìm thấy xác anh, vì thương con nên mẹ bị mất trí nhớ 2 đến 3 tháng.

7. Đường Nguyễn Thị Ly: Đặt tên cho đường Xuân Thới Sơn 8 + 6, từ đường Dương Công Khi đến đường Đặng Công Bỉnh. Dài 2.910m, lộ giới: 14 - 20m.     

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ly, sinh năm 1916, mất năm 1957, quê quán xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1942, hy sinh 1973; Liệt sĩ Nguyễn Văn Trầm, sinh năm 1946, hy sinh 1965; Liệt sĩ Nguyễn Văn Chiến, sinh năm 1949, hy sinh 1981. Mẹ sinh được 11 con (4 người chết lúc nhỏ, còn lại 7 người trong đó có 3 người là liệt sĩ). Trong kháng chiến, gia đình mẹ là cơ sở nuôi giấu cán bộ.

8. Đường Lê Thị Kim: Đặt tên cho đường Xuân Thới Sơn 2, từ đường Xuân Thới Sơn 20 đến đường Dương Công Khi. Dài 2.590m, lộ giới: 20 - 30m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Kim, sinh năm 1905, mất năm 1954, quê quán xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Phạm Văn Rớt, sinh năm 1935, công tác tại Tiểu đoàn 82 Tây Ninh, hy sinh năm 1967; Liệt sĩ Phạm Văn Mười, sinh năm 1944, hy sinh năm 1969 tại tỉnh Tây Ninh; Liệt sĩ Phạm Văn Một, sinh năm 1946, hy sinh năm 1968, tại chợ Cây Thị, quận Gò Vấp. Gia đình mẹ là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng trong kháng chiến. Mẹ sinh sống bằng nghề buôn bán.

9. Đường Nguyễn Thị Đành: Đặt tên cho đường Xuân Thới Sơn 1, từ đường Nguyễn Văn Bứa đến đường Dương Công Khi. Dài 1.884m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Đành, sinh năm 1912, mất năm 1947, quê quán xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Phùng Tấn Phát, sinh năm 1928, hy sinh 1949; Liệt sĩ Phùng Văn Tài, sinh năm 1930, hy sinh năm 1967; Liệt sĩ Phùng Văn Lợi (tự Dò), sinh năm 1932, hy sinh 1967. Mẹ sinh được 7 con (3 trai, 4 gái). Trong kháng chiến, mẹ làm giao liên, tiếp tế lương thực cho cách mạng.

10. Đường Huỳnh Thị Mài: Đặt tên cho tuyến đường Tân Hiệp 1 + 2 + 12, từ đường Dương Công Khi (nhà ông 2 Rép) đến Dương Công Khi (ngã 3 Tám Bình). Dài 2.408m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Mài, sinh năm 1912, mất năm 1992, quê quán xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi. Mẹ có 4 người con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệp, hy sinh năm 1971; Liệt sĩ Nguyễn Văn Nhĩ, hy sinh năm 1968; Liệt sĩ Nguyễn Văn Rượt, hy sinh tháng 10/1962; Liệt sĩ Nguyễn Văn Theo, hy sinh năm 1967. Mẹ sinh được 4 người con, 4 người đều là liệt sĩ. Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Nhà. Trong kháng chiến, mẹ làm công tác giao liên. Mẹ từng bị giặc bắt giam tại nhà tù Bình Dương. Gia đình mẹ được tặng nhà tình nghĩa.

11. Đường Lê Thị Lơ: Đặt tên cho tuyến đường Tân Hiệp 5, từ đường Đỗ Văn Dậy đến đường Tân Hiệp 6. Dài 2.198m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Lơ, sinh năm 1918, mất năm 1993, quê quán xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Mẹ có chồng và 1 con duy nhất là liệt sĩ gồm: Chồng liệt sĩ Huỳnh Văn Cánh, hy sinh năm 1950; Con liệt sĩ Huỳnh Ngọc Bi, sinh năm 1935, hy sinh năm 1968. Trong kháng chiến, mẹ từng bị giặc bắt giam và tra tấn rất dã man, nhưng mẹ vẫn giữ vững khí tiết không khai báo.

12. Đường Nguyễn Thị Ngâu: Đặt tên cho tuyến đường Thới Tam Thôn - Đông Thạnh, từ đường Đặng Thúc Vịnh đến đường Đỗ Văn Dậy. Dài 2.600m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ngâu, sinh năm 1910, mất năm 1969, quê quán xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Văn Phong Bé, sinh năm 1940, hy sinh năm 1966; Liệt sĩ Nguyễn Văn Hoàng (tự Bé), sinh năm 1947, hy sinh năm 1968; Liệt sĩ Nguyễn Văn Bé (tự Bé Em), sinh năm 1951, hy sinh năm 1969. Mẹ sinh được 5 người con (4 trai, 1 gái). Trong kháng chiến, mẹ làm công tác giao liên, nuôi giấu cán bộ, đi đấu tranh chính trị, vận động bà con nuôi quân, tiếp tế cho bộ đội. Gia đình mẹ trước đây sống ở Củ Chi, sau di tản đến ở xã Thới Tam Thôn từ năm 1966. Khi 2 người con trai hy sinh, mẹ đau buồn sinh bệnh và mất.

13. Đường Phạm Thị Giây: Đặt tên cho đường Thới Tam Thôn 5, từ đường Thới Tam Thôn 4 đến đường Tô Ký. Dài 2.559m, lộ giới 25m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Giây, sinh năm 1910, mất năm 1986, quê quán huyện Củ Chi. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Văn Bệ, năm hy sinh 1962; Liệt sĩ Nguyễn Văn Vệ, năm hy sinh 1969; Liệt sĩ Nguyễn Văn Thê, năm hy sinh 1972. Mẹ sinh được 8 người con (4 trai, 4 gái), trong đó có 3 người là liệt sĩ. Mẹ sinh sống tại quê chồng ở Củ Chi. Các con đi kháng chiến, bản thân mẹ và chồng ở nhà đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ. Chồng mẹ từng bị bắt giam 3 lần.

14. Đường Trần Thị Bốc: Đặt tên cho đường Nam Thới 2, từ đường Quang Trung đến đường Trịnh Thị Miếng. Dài 1.840m, lộ giới 16m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Bốc, sinh năm 1910, mất năm 1987, quê quán xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 1 con trai duy nhất là liệt sĩ Kiều Văn Hội, sinh năm 1937, hy sinh ngày 28/12/1964. Trong kháng chiến, nhà mẹ là cơ sở liên lạc cho cán bộ cách mạng. Ngoài ra, mẹ còn tham gia tiếp tế lương thực, thuốc men cho bộ đội. Họ thật của mẹ là họ Nguyễn sau đổi họ Trần để tránh tai mắt của giặc. Khi chồng mất, con của mẹ là anh Kiều Văn Hội vừa tròn 1 tuổi, mẹ ở vậy nuôi con và thức khuya dậy sớm làm bún bán, kiến tiền để sinh sống.

15. Đường Nguyễn Thị Sáu: Đặt tên cho đường Thới Tam Thôn 8, từ đường liên xã Thới Tam Thôn - Đông Thạnh đến đường Nam Thới 1. Dài 1.942m, lộ giới 18m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1922, mất năm 2005, quê quán xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 1 con trai duy nhất là liệt sĩ Đào Văn Hai, sinh năm 1945, hy sinh ngày 05/9/1966. Trong kháng chiến, mẹ tham gia nuôi giấu cán bộ và làm giao liên. Khi chồng bệnh mất, con hy sinh, mẹ một mình làm cách mạng, nhiều lần địch bắt và tra tấn rất dã man ngay trên miệng hầm, nơi che giấu cán bộ cách mạng. Chúng bắt mẹ chụm hai bàn tay dùng cây đánh vào các đầu ngón tay rướm máu, chúng còn dùng tre trói nẹp 2 chân khiêng mẹ giọng đầu xuống giếng, rồi chích điện vào người… Mẹ chết đi sống lại nhiều lần, nhưng vẫn một lòng với cách mạng không khai báo, địch đành phải trả tự do. Về nhà mẹ tiếp tục hoạt động cách mạng.

16. Đường Bùi Thị Lùng: Đặt tên cho tuyến đường Nam Thới 1, từ đường Thới Tam Thôn - Đông Thạnh đến đường Trần Khắc Chân. Dài 1.596m, lộ giới 10 - 18m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Lùng, sinh năm 1912, mất năm 1984, quê quán xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 1 con duy nhất là liệt sĩ Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1939, hy sinh năm 1960. Khi chồng mất, một mình mẹ nuôi con, cuộc sống rất khó khăn, hàng ngày mẹ trồng rau má, cắt đem ra chợ bán kiếm tiền nuôi con, con lớn mẹ động viên con tham gia cách mạng. Khi anh Nguyễn Văn Thuận hy sinh, con của anh mới 3 tháng tuổi, vợ của anh đã bỏ đi, mẹ lại một mình nuôi cháu nội. Đồng thời, nhà mẹ là cơ sở của cách mạng, nơi sinh hoạt, hội họp của cán bộ hoạt động trong lòng địch.

17. Đường Nguyễn Thị Thảnh: Đặt tên cho đường Thới Tam Thôn 4, từ đường Đặng Thúc Vịnh đến Kênh Trần Quang Cơ. Dài 1.585m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thảnh, sinh năm 1918, mất năm 2010, quê quán xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Đào Hoàng Nhanh, sinh năm 1940, tham gia cách mạng năm 1960, hy sinh vào tháng 11/1967; Liệt sĩ Đào Hoàng Trí, sinh năm 1943, tham gia cách mạng năm 1963, hy sinh vào tháng 1/1968; Liệt sĩ Đào Hoàng Vạn, sinh năm 1945, tham gia cách mạng năm 1964, hy sinh vào ngày 27/01/1973. Trong kháng chiến, nhà mẹ là nơi sinh hoạt, hội họp cho nhiều cán bộ, ngoài ra mẹ còn làm giao liên và tham gia tiếp tế lương thực, thuốc men… cho bộ đội.

18. Đường Lê Văn Phiên: Đặt tên cho đường Khu phố 2 - 01, từ đường Lý Thường Kiệt đến đường Lý Thường Kiệt. Dài 320m, lộ giới 12m.

Tiểu sử: nhân vật lịch sử sau thế kỷ XX Lê Văn Phiên, sinh năm 1908, hy sinh năm 1963, là liệt sĩ, bí danh Phan Thanh Châu, quê quán làng Tân Thới Nhì, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Năm 1930, ông tham gia cách mạng. Trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, ông tham gia cánh quân của đồng chí Đặng Công Bỉnh đánh vào Dinh quận Hóc Môn. Đến Cách mạng tháng 8/1945 ông được Đảng bộ quận Hóc Môn phân công nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn vào Dinh quận Hóc Môn vào ngày 26/8/1945 để yêu cầu quận Huân giao lại chính quyền và toàn bộ hồ sơ, sổ sách, doanh trại, súng ống, đạn dược và ông đã hoàn thành nhiệm vụ mà không tốn viên đạn nào. Sau ngày 2/9/1945, Ủy ban cách mạng lâm thời của quận được đổi thành Ủy ban hành chính quận Hóc Môn và ông được bầu làm Ủy viên. Năm 1949, ông là Ủy viên Ban chấp hành Quận Đảng Hóc Môn (lúc đó đồng chí Phạm Khải là Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến quận). Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động kháng chiến chống Mỹ - Ngụy trên địa bàn Gò Môn (Củ Chi - Hóc Môn - Gò Vấp). Đến năm 1957, ông được lệnh rút về chiến khu Dương Minh Châu và được Trung ương Cục miền Nam đưa ra Bắc để chữa bệnh. Tuy nhiên, khi đến Campuchia ông xin được ở lại để tiếp tục kháng chiến chống Mỹ. Sau một thời gian được điều trị trên đất bạn Campuchia ông đã phục hồi sức khỏe và trở lại chiến khu An Nhơn Tây - Hố Bò (Củ Chi). Trên đường đi công tác, ông bị giặc bắn trọng thương, sức khỏe yếu dần và hy sinh vào ngày 02/02/1963. Ông được Hội đồng Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhất năm 1989. Chủ tịch nước truy tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhì năm 1999. Gia đình thân phụ ông cũng được nhà nước xét tặng Bằng có công với nước và Bằng gia đình vẻ vang.

19. Đường Võ Thị Hồi: Đặt tên cho đường liên xã Tân Xuân - Xuân Thới Sơn - Xuân Thới Thượng, từ Quốc lộ 22 đến đường Nguyễn Thị Thử. Dài 2.453m, lộ giới 22m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng là đảng viên Võ Thị Hồi, sinh năm 1905, mất năm 2000, quê quán xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn. Mẹ là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Mẹ có 4 con là liệt sĩ gồm: Nữ liệt sĩ Lê Thị Sợ, hy sinh năm 1961; Liệt sĩ Lê Văn Lăng, hy sinh năm 1961; Nữ liệt sĩ Lê Thị Hà, hy sinh năm 1969; Liệt sĩ Lê Văn Tiển, hy sinh năm 1970. Mẹ sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 17 tuổi, mẹ tham gia cách mạng. Năm 1930, mẹ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1958, mẹ bị bắt giam tại nhà lao Gia Định, Trung tâm cải huấn Biên Hòa, đến năm 1961, mẹ được thả ra và tiếp tục hoạt động cách mạng, nuôi giấu cán bộ, tuyên truyền bà con tham gia cách mạng và chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân. Sau ngày giải phóng, mẹ tiếp tục tham gia các hoạt động tại địa phương.

20. Đường Võ Thị Đầy: Đặt tên cho đường liên xã Nhị Bình - Đông Thạnh, từ đường Đặng Thúc Vịnh đến đường Nhị Bình 8. Dài 2.808m, lộ giới 30m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Đầy, sinh năm 1910, mất năm 1976, quê quán xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Nguyễn Văn Tư, hy sinh năm 1969; Liệt sĩ Nguyễn Văn Sáu, hy sinh năm 1962; Liệt sĩ Nguyễn Văn Bì, hy sinh năm 1962. Mẹ sinh được 8 con (6 trai, 2 gái). Trong kháng chiến, mẹ đóng góp, ủng hộ vật chất cho cách mạng.

21. Đường Thái Thị Giữ: Đặt tên cho đường Bà Điểm 8, từ đường Phan Văn Hớn đến Cư xá Bà Điểm. Dài 1.596m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng là đảng viên Thái Thị Giữ, sinh năm 1921, mất năm 2004, quê quán xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Mẹ là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Mẹ có 2 người con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Võ Văn Á, thượng sĩ, hy sinh ngày 19/3/1969; Liệt sĩ Võ Văn Nguyên, thượng sĩ, hy sinh ngày 10/01/1971. Sinh thời, mẹ làm nghề nấu rượu. Chồng mẹ là ông Võ Văn Sến. Trong kháng chiến, mẹ làm công tác giao liên. Sau giải phóng, mẹ làm Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Bà Điểm. Mẹ được kết nạp Đảng năm 1971 và được nhận huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.

22. Đường Nguyễn Thị Huê: Đặt tên cho đường Bà Điểm 7, từ đường Nguyễn Ảnh Thủ đến Quốc lộ 22. Dài 1.473m, lộ giới 20m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Huê, sinh năm 1911, mất năm 1991, quê quán xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Mẹ có 3 con là liệt sĩ gồm: Liệt sĩ Phan Văn Chính, hy sinh năm 1967; Liệt sĩ Phan Văn Thiền, hy sinh năm 1949; Liệt sĩ Phan Văn Tám, hy sinh năm 1967. Gia đình mẹ sinh sống bằng nghề trồng trầu, cau. Mẹ tham gia cách mạng trước năm 1945. Nhà mẹ là cơ sở của đơn vị biệt động Thành phố. Mẹ nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực cho du kích, bộ đội, vận động thanh niên tham gia cách mạng và đưa cán bộ từ Bà Điểm về chiến khu. Trong quá trình hoạt động mẹ từng bị giặc bắt và tra tấn nhiều lần. Mẹ được nhà nước tặng Huân chương độc lập hạng III, Huân chương kháng chiến hạng I.

23. Đường Nguyễn Thị Nuôi: Đặt tên cho tuyến đường Hương lộ 60B, từ Quốc lộ 22 đến Hương lộ 60. Dài 420m, lộ giới 30m.

Tiểu sử: Bà mẹ Việt Nam anh hùng là đảng viên Nguyễn Thị Nuôi, sinh năm 1917, mất năm 2001, quê quán xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Mẹ là Đảng Viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Mẹ có 1 con duy nhất là liệt sĩ Nguyễn Gian Truân, hy sinh năm 1967. Tháng 10 năm 1935, mẹ làm liên lạc cho Huyện ủy Hóc Môn. Năm 1937, là Chi ủy viên Chi bộ Tân Thới Tam. Sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, mẹ hoạt động nằm vùng để nắm cơ sở hoạt động. Năm 1945, mẹ làm Trưởng ban Lương thực của Ủy ban kháng chiến huyện Hóc Môn. Năm 1946, mẹ làm Ban Chấp hành Hội Phụ nữ huyện Hóc Môn. Từ năm 1949 đến năm 1967, mẹ giữ nhiều chức vụ quan trọng ở huyện Đức Hòa. Sau đó, mẹ về hưu ở với gia đình.

                                                                               Phương Nam

                                                                       (Nguồn UBND huyện)


Số lượt người xem: 1242    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Hào khí Hóc Môn - Bà Điểm
Tìm kiếm